Phát triển ngành cơ khí: Thị trường là vấn đề mấu chốt

[ Điểm đánh giá5/5 ]1 người đã bình chọn
Xem: 414 | Cật nhập: 12/18/2016 2:47:47 AM | RSS

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc tập trung ngành nào, sản xuất sản phẩm gì, quan trọng nhất phụ thuộc vào thị trường. Ngành nào, sản phẩm nào có dung lượng thị trường thì các chính sách hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước sẽ tập trung vào phát triển những ngành đó.

Đây là ý kiến của ông Trương Thanh Hoài, Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng, Bộ Công Thương trong cuộc trao đổi về vấn đề phát triển ngành cơ khí trong giai đoạn hiện nay.

Thời gian qua sự phát triển của ngành cơ khí chưa đạt được mục tiêu đề ra. Xin cho biết ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?

Chúng tôi nghĩ vấn đề quan trọng nhất ở đây là bài toán về thị trường. Ngành cơ khí là ngành có đầu tư vốn rất lớn nhưng tỷ suất lợi nhuận thu hồi vốn thấp và thời gian thu hồi kéo dài. Trong khi đó thời gian qua có một số vấn đề kinh tế vĩ mô như lãi suất tín dụng còn cao, một số lĩnh vực thương mại dịch vụ tỷ suất lợi nhuận lớn hơn nhiều so với ngành cơ khí. Cũng phải nói rằng, trước khi gia nhập WTO, thị trường của các sản phẩm cơ khí của chúng ta còn rất nhỏ. Sau khi gia nhập năm 2007, bản thân thị trường có tăng lên nhưng dung lượng thị trường đối với từng loại sản phẩm cơ khí vẫn còn nhỏ. Chúng tôi nghĩ đây là mấu chốt, là phần quan trọng nhất trong việc ngành cơ khí chưa có cơ hội để phát triển. Hy vọng trong thời gian sắp tới, một số Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương vừa được ký kết sẽ tạo cơ hội để mở rộng thị trường, mở rộng dung lượng cho các sản phẩm cơ khí, lúc đó DN cơ khí của chúng ta sẽ có cơ hội để phát triển nhiều hơn.

Vậy Bộ Công Thương đã tạo điều kiện về thị trường như thế nào cho các DN?

Thời gian qua chúng tôi cũng đã trình Chính phủ và Chính phủ cũng đã chấp thuận một số cơ chế cho ngành cơ khí phát triển, ví dụ cơ chế nội địa hóa các nhà máy nhiệt điện, được Chính phủ ban hành tại Quyết định 1791/2012/QĐ-TTg ngày 29-11-2012 phê duyệt cơ chế thực hiện thiết kế, chế tạo trong nước các thiết bị phụ các nhà máy nhiệt điện trong giai đoạn 2012-2025. Trên thực tế hiện nay nhu cầu năng lượng của chúng ta phát triển nhanh, với nhu cầu phụ tải tăng trưởng trên 10%/năm. Sắp tới chúng ta sẽ có thêm hàng chục nhà máy điện, mỗi nhà máy có công suất khoảng 1.000 đến 1.200 MW với mức đầu tư khoảng 2 tỷ USD nên chúng ta sẽ có dung lượng thị trường cơ khí chế tạo rất lớn, với hàng chục tỷ USD trong thời gian tới. Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đang giao thí điểm một số nhà máy điện, ví dụ như nhà máy nhiệt điện Quỳnh Lập 1, Quảng Trạch 1, chúng tôi cho rằng sau khi thí điểm thành công tại các dự án này, trình độ và năng lực của các DN cơ khí chúng ta sẽ được nâng lên một bước, trên cơ sở đó các DN có thể tham gia vào các thị trường trong và ngoài nước để tham gia vào các gói thầu tương tự hoặc tham gia xây lắp các gói thầu công nghiệp.

Chúng ta đang nói nhiều tới việc Việt Nam có cơ hội để trở thành trung tâm chế biến chế tạo mới của thế giới sau năm 2015, trong đó cơ khí được xác định là ngành công nghiệp then chốt. Vậy trong thời gian tới, chúng ta cần phải làm gì để giảm tỷ lệ nhập siêu cũng như tăng tỷ lệ nội địa hóa cho ngành cơ khí?

Đảng và Nhà nước đã khẳng định cơ khí là ngành cực kỳ quan trọng, là ngành công nghiệp nền tảng của kinh tế đất nước để đảm bảo nội lực cho đất nước, kể cả trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng. Chúng tôi xác định chúng ta mới chỉ có những điều kiện, tiền đề ban đầu, có những lợi thế cạnh tranh để hình thành trung tâm chế tạo mới sau năm 2015, ví dụ như các Hiệp định thương mại tự do sắp tới sẽ tạo điều kiện mở rộng thị trường cho ngành cơ khí Việt Nam, nhưng để trở thành trung tâm chế tạo mới của thế giới sau năm 2015 chúng ta còn rất nhiều việc phải làm.

Nhìn lại Quyết định 186, nhiều ý kiến cho rằng, chúng ta đề ra 8 nhóm cơ khí trọng điểm là quá nhiều. Với chức năng là cơ quan quản lý Nhà nước, theo ông, thời gian tới có nên nghiên cứu lại hay không và cụ thể là như thế nào?

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, đặc biệt nền kinh tế chúng ta chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường, do đó việc tập trung ngành nào, sản xuất sản phẩm gì, quan trọng nhất theo chúng tôi chủ yếu phụ thuộc vào thị trường. Chúng tôi xác định, những ngành nào, sản phẩm nào có dung lượng thị trường thì các chính sách hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước sẽ tập trung vào phát triển những ngành đó.

Về Quyết định186, chúng tôi cũng đã có đánh giá trong dự thảo và thực tế cho thấy 8 nhóm ngành được ưu tiên hỗ trợ là quá nhiều, có những sản phẩm trên thực tế vượt quá trình độ phát triển của chúng ta hiện nay, thậm chí là vượt quá xa. Vì thế chúng ta phải xác định những sản phẩm gì vừa có thị trường nhưng lại vừa sức của chúng ta để có thể làm được. Hiện có những sản phẩm có tính công nghệ cao, thậm chí trên thế giới chỉ có một số ít hãng của các nước G7, EU, Hoa Kỳ mới có điều kiện sản xuất (ví dụ như tua bin máy phát). Trong giai đoạn ngắn hạn hiện nay chúng ta rất khó để làm, vì muốn làm những sản phẩm như vậy thì nền tảng hạ tầng ngành công nghiệp Việt Nam như công nghệ vật liệu, thiết kế, các chế tạo cơ bản... phải đủ vững chắc, nhưng đặc biệt công nghệ vật liệu của chúng ta hiện nay còn rất hạn chế. Trong dự thảo hiện nay đang đưa ra lấy ý kiến, chúng tôi hướng đến một số lĩnh vực như công nghiệp ô tô, cơ khí nông nghiệp, sản xuất thiết bị điện, công nghiệp hỗ trợ cho ngành cơ khí. Những ngành này chúng tôi xác định là đang có dung lượng thị trường đủ lớn, cơ hội trong tương lai còn lớn hơn nữa, đó là điều kiện tiên quyết để phát triển các sản phẩm trong cơ chế thị trường hiện nay.

Xin cảm ơn ông!

Phòng Thông tin Công nghiệp

Theo Báo Hải Quan Online